A+ | A- | Reset
lotus20.jpg
Trang chủ arrow Giới thiệu arrow Thiền sư Thích Duy Lực arrow Tiểu Sử Thiền Sư Thích Duy Lực
Tiểu Sử Thiền Sư Thích Duy Lực In E-mail

Sư pháp hiệu thượng Duy hạ Lực, tự Giác Khai, thuộc đời 89 Thiền Tông tính từ Tổ Ma Ha Ca Diếp. Sư đã theo tu học với các bậc thiện tri thức thuộc cả hai tông Lâm Tế và Tào Động, và trong suốt thời gian hoằng pháp chuyên hướng dẫn tứ chúng tu tập pháp môn Tổ Sư Thiền khán thoại đầu.

THỜI KỲ TẠI GIA
Sư sinh năm 1923, người Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Tục gia họ La. Ở quê hương tốt nghiệp tiểu học, năm 16 tuổi theo cha đến Việt Nam. Lúc đầu làm mướn, rảnh thì tự học. Đến 20 tuổi làm giáo viên tiểu học. Sau, thi đậu bằng giáo sư Hoa Văn, làm giáo sư ở các trường trung tiểu học Hoa Văn tại Việt Nam và Kampuchia. Vừa dạy học vừa học ngành Đông y, qua 10 năm, Sư tốt nghiệp Đông y sĩ, và được mời làm Đông y sĩ tại chùa Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm Cần Thơ trong 8 năm.

Trong chùa có bộ Tục Tạng Kinh gồm 150 tập. Lúc đầu Sư tính xem hết toàn bộ, nhưng trải qua một năm mới xem tới tập thứ bảy. Do đó Sư bỏ ý định đọc toàn tạng mà chỉ xem phần Thiền tông, đồng thời “y chỉ” Pháp sư Diệu Duyên học Tổ Sư Thiền. (Pháp sư Diệu Duyên là người đã từng nhiều năm thân cận hai vị thiền sư kiến tánh, Lai Quả và Hư Vân). Từ đó, Sư chuyên tham thoại đầu.

Khổ tham mấy năm, nhân đọc Trung Quán Luận đến câu: "Vì có nghĩa KHÔNG, nên tất cả pháp được thành", Sư đốn ngộ ý chỉ: vì do sự KHÔNG mà hiển bày sự Dụng.

Và rõ được các câu:
"KHÔNG sanh nơi đại giác (tự tánh),
Như biển nổi một bọt (nước),
Vô số quốc độ hữu lậu,
Đều từ KHÔNG sanh khởi"
trong Kinh Lăng Nghiêm,
với câu: “Lấy VÔ TRỤ làm gốc” của Lục Tổ Huệ Năng,
và câu: “Từ gốc VÔ TRỤ lập tất cả pháp” của Ngài Duy Ma Cật, đều cùng một ý chỉ.
"VÔ TRỤ tức là tánh KHÔNG, chân như thể KHÔNG mà hiển sự Dụng". Chư Phật và chúng sanh thể dụng đồng khắp không gian và thời gian, tại thánh chẳng tăng, tại phàm chẳng giảm; dù là phàm phu, dụng của Phật Tánh chẳng kém chư Phật, lại cũng chẳng hề tạm ngưng, chỉ vì chúng sanh ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết thôi.

THỜI KỲ XUẤT GIA

Khi 50 tuổi, Sư đến Từ Ân Thiền Tự ở Chợ Lớn, Việt Nam, xin Hòa Thượng Hoằng Tu cho xuất gia. Năm 1974, Sư thọ giới Tam Đàn Cụ Túc tại chùa Cực Lạc, Malaysia.

Đến ngày 02 tháng 04 năm 1977, Sư thừa lệnh ân sư Hoằng Tu bắt đầu ra hoằng dương Tổ Sư Thiền tại Từ Ân Thiền Tự. Từ đó, tứ chúng Phật tử đến dự thiền thất rất đông, thường tới hơn 300 người mỗi kỳ.

Năm 1989, Sư đến California, Hoa Kỳ, sáng lập Từ Ân Thiền Đường. Nơi đây người đến học thiền gồm có người Tây Phương và người Á Châu, trong đó người Việt Nam chiếm phần đông. Sư thường được Phật tử các nơi như Canada, Australia, v.v... mời đến hoằng pháp. Cũng nhiều lần các thiền viện người Hoa Kỳ mời Sư đến giảng về Tổ Sư Thiền.

Những lần về Việt Nam, Sư được mời đi thuyết Pháp và dẫn chúng tu tập Tổ Sư Thiền tại Sài Gòn cũng như khắp các tỉnh miền Trung và miền Tây như Khánh Hòa, Bình Định, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, nhất là tại Phật Học Viện Đại Tùng Lâm, Bà Rịa. Sư cũng lập một vườn rau sạch tại Củ Chi, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc sát trùng, và một đông y viện chẩn bệnh phát thuốc miễn phí tại Long Thành, Đồng Nai.

Hóa duyên đã mãn, Sư viên tịch tại California, Hoa Kỳ, lúc 10 giờ 30 sáng, ngày 7 tháng 1 năm 2000, nhằm ngày 01 tháng 12 năm Kỷ Mão, (ngày giờ California, Hoa Kỳ), trụ thế 77 năm.

DI SẢN VÀ MỘT VÀI NÉT CHÍNH TRONG VIỆC HOẰNG PHÁP

Ngoài việc trực tiếp thuyết pháp và hướng dẫn tu pháp môn Tổ Sư Thiền, Sư còn biên soạn và trước tác một số sách bằng tiếng Hoa, tổng cộng hơn 10 tác phẩm. Sư cũng đã dịch kinh Phật và ngữ lục của chư Tổ từ tiếng Hoa sang tiếng Việt, và trước tác một số sách bằng tiếng Việt, tổng số gần 30 tác phẩm. Những sách này đã được xuất bản và phát hành tại Việt Nam, Mỹ, và Đài Loan.

Bên cạnh những kinh sách kể trên, những chỉ dạy cùng hướng dẫn của Sư cũng còn được lưu truyền lại trong những đĩa thu âm và đĩa thu hình, ghi lại những buổi nói pháp khi Sư trả lời các câu hỏi đủ loại của thính chúng. Nội dung những điều này cũng đã được một số đệ tử của Sư chép lại và xuất bản thành bộ sách "Duy Lực Ngữ Lục".

Cách dùng chữ và lối diễn tả của Sư dù là khi nói hay khi viết đã cho thấy Sư không câu nệ hình thức mà chỉ chú trọng nội dung, không gò bó trau chuốt câu văn mà chỉ quan tâm đến việc giúp người nghe, người đọc có thể "được ý quên lời". Các sách Sư dịch thuật hoặc trước tác đều là do nhu cầu của thính chúng mà Sư tùy duyên thực hiện nhằm truyền bá kinh điển đại thừa liễu nghĩa, tạo điều kiện giúp chúng nhân tu tập pháp môn Tổ Sư Thiền.

Khi hướng dẫn mọi người, bên cạnh việc giới thiệu và giải thích cách thức Tham Thoại Đầu, Sư thường xuyên nhấn mạnh một số yếu tố then chốt vô cùng cần thiết cho việc tu tập, như:

Sư luôn nhắc đến vấn đề PHÁ NGÃ CHẤP; thực hành 9 chữ VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ; và nhấn mạnh đến TIN TỰ TÂM, và GIỮ NGHI TÌNH khi tu tập.

Sư biện tài vô ngại, kiến giải Phật pháp rộng rãi cao thâm, song không bao giờ đặt nặng tri kiến. Trong mọi thời nói pháp hay những khi trả lời câu hỏi của thính chúng, Sư luôn luôn dẫn mọi người trở lại việc tu tập. Sư thường xuyên nhắc rằng những gì Sư nói với mọi người chỉ nhằm mục đích giúp mọi người củng cố được lòng tin tự tâm để tiếp tục tu tập đến kiến tánh, chứ không phải để thêm kiến giải.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Kinh sách Băng giảng Phim Ảnh

TÀI LIỆU ẤN TỐNG CỦA BẠN

Show Cart
Your Cart is currently empty.

Who's Online

Chúng ta có 4 khách trực tuyến

2010 Tổ Sư Thiền - Từ Ân Thiền Đường